Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Luận bàn về đặc biệt sự công bằng.

Lập pháp có nhiệm vụ phải tối ưu hóa mọi ích của mọi thành phần xã hội (welfare maximization). Chính sự cạnh tranh giữa các ý tưởng là bước khởi đầu, là cơ sở quan trọng để góp phần tạo nên sự công bằng xã hội. 349. 2 Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. ” Điều 52 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 cũng qui định: “Mọi công dân đều đồng đẳng trước pháp luật”.

Band 1. Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, công bằng dần được cầu mong trong một khuôn khổ rộng lớn hơn, không chỉ được hiểu là công bằng trong phạm vi nhà nước, mà hơn thế, công bằng còn được hiểu ở phạm vi quốc tế.

Theo nghĩa chủ quan, công bằng phụ thuộc vào sự cảm nhận, đánh giá, phán xét của mỗi cá nhân 3. Tỉ dụ, những bác sĩ có cùng trình độ, cùng năm cống hiến phải được hưởng lương như nhau, nhưng không thể đòi hỏi lương một người bác sĩ lâu năm đã bỏ bao công cần lao, học hỏi, phải ngang bằng với lương một người y tá mới ra trường.

Aufl. Mỗi người sẽ có những đánh giá riêng của mình thế nào là công bằng hay không công bằng. Hoạt động hành pháp và tư pháp cũng phải dựa trên cơ sở pháp luật và bảo đảm sự vô tư lự (fairness), song song hạp với tính chất, mức độ của từng quan hệ pháp lý cụ thể. Trong tuyên ngôn nhân quyền của liên hợp quốc năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights) có ghi nhận là: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và đồng đẳng về nhân phẩm và quyền lợi.

Trong từng lớp hiện đại hiện tại, để đảm bảo cho sự công bằng, cơ quan lập pháp có vai trò rất quan trọng. Không ở đâu pháp luật qui định “mọi người đều đồng đẳng”,vì điều đó không thể có, nhưng gần như luật pháp của nhà nước nào cũng qui định “mọi người đều đồng đẳng trước luật pháp”. (Xem báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Bank) về sự công bằng và phát triển (Equity and Development) năm 2006 tại địa chỉ: http://econ.

348. Đồng đẳng trước luật pháp là điều kiện căn bản để đạt đến sự công bằng 6. 4 Xem: Oswald Schwemmer, Gerechtigkeit, in: Jürgen Mittelstraß (Hrsg. Worldbank. , 2011, Rn. Những đối tượng này cần phải được tiếp cận với các dịch vụ coi sóc sức khỏe, giáo dục, công ăn việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh nhằm góp phần kiến tạo sự công bằng về điều kiện sống và công bằng về thời cơ phát triển trong xã hội 5.

Những đạo luật vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị tuyên bố vô hiệu. -------------- 1 Rüthers/Fischer/Birk, Rechtstheorie mit juristischer Methodenlehre, 6. Việc thực thi hiệu quả các vấn đềnhư công bằng trong việc tiếp cận các dịp, công bằng trong việc đảm đương nghĩa vụ chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các thế hệ sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều bình diện ở khuôn khổ toàn cầu.

Chẳng hạn trong việc xây dựng chính sách thuế: Những người có khả năng ngang nhau cần phải đóng một khoản thuế ngang nhau (công bằng theo chiều ngang), và những người có khả năng hay thu nhập không ngang nhau cần phải vận dụng những khoản thuế khác nhau (công bằng theo chiều dọc).

Công bằng còn được hiểu là sự khoảng một môi trường mà trong đó các nhịp là ngang bằng nhau.

Chả hạn: Cái thiện luôn thắng cái ác, Cô Tấm hiền thảo, chịu thương chịu khó hay Thạch Sanh nghĩa hiệp cuối cùng được hưởng vinh hoa phú quí, còn mẹ con Cám độc ác hay Lý tư thông ác, giảo quyệt rút cuộc phải bị trị. , Thời cơ giữa các thành viên trong xã hội được phân chia một cách thích hợp, không thiên bẩm 4.

Việc thực thi hiệu quả các vấn đề như công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội, công bằng trong việc phụ trách nghĩa vụ chung, công bằng trong việc hưởng các quyền tự do, công bằng dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và công bằng giữa các đời sẽ góp phần kiến tạo nên một sự phát triển bền vững về nhiều phương diện ở phạm vi toàn cầu.

Chủ toạ Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Chẳng hạn, trong một tầng lớp đa dạng, đa chiều, sự cạnh tranh giữa các ý tưởng sẽ tạo điều kiện cho các sáng kiến của cá nhân chủ nghĩa phát triển. Công bằng theo nghĩa khách quan và công bằng theo nghĩa chủ quan    Công bằng cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau là nghĩa khách quan (objective justice) hoặc nghĩa chủ quan (subjective justice) 1.

” Công bằng ngày nay không chỉ là xu hướng chung trong thế giới hiện đại mà còn là điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, là tiêu chí, thước đo đánh giá chừng độ phát triển vững bền của một xã hội. Metzler, Stuttgart 1995, S. Điều này cũng phản ảnh một qui luật thế tất: sự hợp nhất và chống chọi của các mặt đối nghịch là nguồn cội, động lực của sự phát triển. 347. Đồng đẳng về nhịp và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các ý tưởng    từng lớp nào cũng luôn tồn tại những nhóm người yếu thế, nhóm người dễ bị thương tổn.

Đó là sự công bằng; Hay qui định người nào làm nhiều sẽ được hưởng nhiều, người nào làm ít sẽ được hưởng ít, người có công được thưởng, người có tội phải bị trừng phạt; người có công càng lớn thì mức thưởng càng lớn, người có tội càng nặng, mức phạt sẽ càng nặng.

3 Rüthers/Fischer/Birk, Sách đã dẫn, Rn. Công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc    Trong kinh tế học, người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng từng lớp đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng tầng lớp theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những dị biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau.

Chả hạn chính sách cộng thêm điểm thi đại học theo vùng hiện giờ, chính sách hỗ trợ cho những người tàn tật, người già cô đơn không nơi dựa ở Việt Nam giờ ngoài ý nghĩa là những chính sách tầng lớp, đó còn là bộc lộ của sự công bằng (công bằng theo chiều dọc). Theo nghĩa khách quan, công bằng được hiểu là những giá trị đúng đắn, những qui tắc, chuẩn chung hoặc cách thức hành động hợp, được cộng đồng nhận 2.

Org/external/default/main?pagePK=64165259&theSitePK=478060&piPK=64165421&menuPK=64166093&entityID=000112742_20050920110826). Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đều đề cao giá trị bình đẳng, công bằng, mục đích là chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên sự khác biệt về cỗi nguồn xuất thân, chủng tộc, màu da, giới tính, thiên hướng dục tình, ngôn ngữ, tôn giáo, thế giới quan chính trị, cỗi nguồn xuất thân, tài sản hay các điều kiện khác.

Muốn vậy, phải có cơ chế giải trình, rà, giám sát và bảo đảm sáng tỏ thông báo. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật bị vi phạm khi công quyền hành xử tùy tiện, đối bất công hơn đối vơímột nhóm người này so với một nhóm người khác, không dựa trên cứ pháp lý nào cả, dù rằng giữa hai nhóm này không có bất cứ một sự dị biệt nào về mặt địa vị pháp lý.

Bình đẳng và công bằng dưới góc độ pháp lý    Dưới giác độ pháp lý, bình đẳng và công bằng là hai khái niệm khác nhau. Tóm lại, công bằng có thể hiểu một cách khái quát nhất là thể lý tưởng của tầng lớp loài người, trong đó vấn đề tài sản, lợi. Đó là công bằng. 6 Nguyên tắc này đóng vai trò như là nền móng của quốc gia pháp quyền đương đại và là một nguyên tắc quan yếu của nhiều bản Hiến pháp dân chủ.

): Enzyklopädie Philosophie und Wissenschaftstheorie. 746 5 Theo mỏng của nhà băng thế giới (World Development Report 2006 – Equity and Development) ở những nước nào mà các yếu tố về công bằng, đặc biệt là công bằng về mặt thời cơ (equality of opportunity) được quan hoài, bảo vệ thì ở những nước đó có sự tăng trưởng tốt về kinh tế. Bình đẳng chỉ là yếu tố cơ bản hợp thành sự công bằng.

Dù rằng có nhiều cách quan niệm cũng như lý thuyết về sự công bằng, tuy nhiên những lý thuyết này vẫn chưa đủ để tạo ra một cách hiểu hợp nhất về sự công bằng, bởi lẽ mỗi nền văn hóa, ở nể gian và thời kì khác nhau, lại xuất hiện những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về sự công bằng. Những quyết định hành chính hay phán quyết của Tòa án vi phạm nguyên tắc bình đẳng phải bị hủy bỏ.

Người dân phải được quyền biết và đóng góp ý kiến vào việc hình thành, cũng như giám sátviệc thực thi pháp luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét